LỜI GIỚI THIỆU
Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ hân hạnh giới thiệu với độc giả Việt Nam một công trình nghiên cứu quan trọng gần đây của Giáo sư Olga Dror về chiến tranh Việt Nam, qua bản dịch công phu và đầy tâm huyết của dịch giả Lê Tùng Châu từ nguyên tác tiếng Anh, “Making Two Vietnams: War and Youth Identities, 1965-1975” (Cambridge, UK: Cambridge University Press, 2018). Chúng tôi chân thành cảm tạ Nhà Xuất Bản Đại Học Cambridge và Giáo sư Olga Dror đã cho phép chúng tôi được xuất bản bản tiếng Việt của sách.
Được đào tạo ở Liên Xô, Do Thái và Hoa Kỳ, Olga Dror hiện là Giáo sư Sử học tại Đại học Texas A&M ở College Station, TX. Bà là tác giả, dịch giả và đồng biên tập năm cuốn sách và nhiều bài báo. Nghiên cứu của bà có nhiều mảng: từ các tôn giáo hữu thần ở Việt Nam và Trung Quốc và các nhà truyền giáo châu Âu ở châu Á trong thời kỳ đầu hiện đại, đến trải nghiệm dân sự trong cuộc tấn công của quân đội cộng sản vào Huế trong Tết Mậu Thân, đến giới trẻ miền Bắc và miền Nam Việt Nam trong nội chiến, đến hiện tượng sùng bái Hồ Chí Minh như thần thánh ở Việt Nam. Bà đã viết nhiều bài báo trên các tạp chí hàng đầu của nhiều lĩnh vực Tạp chí Nghiên cứu Châu Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Lịch sử Xã hội, Tạp chí Nghiên cứu Chiến tranh Lạnh. Trong số các giải thưởng của bà có Học bổng Quốc gia về Nhân văn và Học bổng Quốc tế Dan David.
Trong công trình “Việt Nam Nước Chia Hai Đàng” này, Giáo sư Olga Dror nghiên cứu việc giáo huấn (nguyên văn “education and socialization”) của thanh niên dưới hai chính phủ Việt Nam đối nghịch nhau, đó là Việt Nam Cộng hòa (VNCH hoặc Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH hoặc Bắc Việt Nam), trong những năm khốc liệt nhất của cuộc nội chiến. Là một người đã trải qua một nửa thời thơ ấu ở Sài Gòn và nửa còn lại ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Sài Gòn bị đổi tên dưới chính quyền cộng sản, tôi vô cùng cảm kích tác giả đã làm sáng tỏ sự tương phản rõ nét giữa hai hệ thống mà tôi đã lớn lên và trải nghiệm trực tiếp.
Hai nước Việt Nam trong sách quá khác biệt, khiến người ta tự hỏi liệu cả hai có phải cùng là đất nước của người Việt Nam hay không. Ở miền Bắc, chính phủ không chỉ kiểm soát trực tiếp các cơ sở văn hóa và giáo dục mà còn huy động thanh niên vào các tổ chức quần chúng để phục vụ cho đảng cộng sản và chính quyền. Các chính sách ở miền Bắc nhằm mục đích giáo huấn trẻ em với mục tiêu duy nhất là tạo ra một thế hệ chiến binh trung thành với ý thức hệ, những con người với lòng căm thù kẻ thù sâu sắc và sẵn sàng chết theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh và đảng của ông ta.
Để hiểu được mục tiêu này, hãy đọc đoạn trích sau từ tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên năm 1962 về việc chọn các tác giả như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Marx, Lenin, Mao Trạch Đông, Nikolai Ostrovsky, cho chương trình giảng dạy ở trường học. Theo ông Huyên, các tác phẩm này “bồi đắp cho các em tinh thần đấu tranh kiên cường, ý chí chiến đấu, tình yêu chân thành đối với giai cấp vô sản, niềm tin hoàn toàn lạc quan vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, truyền cho các em sức sống mãnh liệt của thế hệ thanh niên Hồ Chí Minh để vượt qua mọi khó khăn trở ngại, tiến lên hoàn thành nhiệm vụ.”1
Ngược lại, văn hóa và giáo dục ở miền Nam tự chủ hơn nhiều đối với chính quyền. Chính quyền miền Nam nói chung không thành lập các tổ chức chính trị cho thanh niên, cũng không kiểm soát các cơ sở văn hóa giáo dục như ở miền Bắc. Hầu hết trẻ em được phát triển tự nhiên và hưởng một nền giáo dục bình thường. Chính phủ không tìm cách tuyên truyền cho chúng về nguyên nhân chiến tranh hoặc sự cần thiết phải bảo vệ miền Nam Việt Nam khỏi cuộc xâm lược của miền Bắc.
Do chính sách đó, trẻ em ở miền Nam không hiểu gì về bản chất của chiến tranh và kẻ thù cộng sản. Một số lớn lên và trở thành người ủng hộ chính phủ. Nhiều người tham gia cộng sản hoặc các nhóm chống chính phủ khác. Hầu hết có lẽ thờ ơ với chính trị. Nếu tất cả trẻ em miền Bắc được lập trình để trở thành chiến sĩ cộng sản, thì trẻ em miền Nam phần lớn được tự do lựa chọn niềm tin chính trị của mình khi trưởng thành.
Tập trung vào quá trình giáo huấn thanh niên, Olga Dror cung cấp bằng chứng phong phú về hai viễn kiến chính trị đối lập trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Đây là hai viễn kiến cộng hòa và cộng sản mà trong hai thập kỷ đã tồn tại song song trên hai lãnh thổ riêng biệt dưới hai chính thể đối chọi nhau. Chính thể cộng hoà tôn trọng một xã hội đa dạng và cho phép tự do dân sự; chính thể cộng sản sẵn sàng sử dụng các biện pháp cưỡng chế để đạt được sự thống nhất và đồng nhất. Chính thể cộng hoà bác bỏ chiến tranh và chứa đựng những mầm mống của một nền dân chủ tự do; chính thể cộng sản tôn vinh chiến tranh và được xây dựng trên nền tảng của chế độ độc tài kiểu Stalin-Mao.
Xung đột giữa hai viễn kiến và chính thể liên quan đến các giá trị nền tảng, có thể được gọi là “xung đột giữa hai nền văn minh” (từ của Samuel Huntington). Dù quân đội cộng sản giành được chiến thắng vào năm 1975, viễn kiến cộng sản ngày nay đã mất ảnh hưởng trong xã hội, như Dror chỉ ra: “trong những thập kỷ gần đây, cách nuôi dạy thế hệ trẻ thời [Việt Nam Cộng Hòa] … một thời bị cộng sản khinh miệt, đã dần dần xuất hiện lại” ở Việt Nam. Chiến thắng của cộng sản năm 1975 hóa ra không thuyết phục và không phải là tất yếu như người ta tưởng. Ngày nay ta đã thấy rõ đó chỉ là một chiến thắng quân sự thuần tuý, còn về mặt văn minh, nền văn minh của chính thể cộng hoà nhân văn hơn và rõ ràng có sức sống mạnh mẽ hơn.
Công trình nghiên cứu của Giáo sư Olga Dror góp phần soi sáng nhiều câu hỏi về cuộc nội chiến Việt Nam. Chính sách giáo dục của miền Bắc cho thấy giới lãnh đạo của họ muốn tạo ra một xã hội cách mạng thông qua đấu tranh giai cấp dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đây là mục đích cuối cùng của cuộc chiến mà họ kiên trì theo đuổi với cái giá kinh hoàng. Ngược lại, chính sách giáo dục của miền Nam Việt Nam phản ánh mục tiêu tự vệ chống lại cuộc chiến do miền Bắc phát động. Chính quyền miền Nam nói chung không buộc người dân của mình phải chiến đấu hay hy sinh vượt quá những gì thực sự cần thiết. Trẻ em miền Nam và sự ngây thơ của chúng được bảo vệ dù quanh chúng đang diễn ra một cuộc chiến tàn khốc do Hà Nội chỉ đạo.
Trong khi các học giả từ lâu đã biết cách nhà nước Stalinist-Maoist ở miền Bắc Việt Nam kiểm soát sản xuất và nguồn sinh kế của hầu hết người dân, thì “Việt Nam Nước Chia Hai Đàng” là tác phẩm tiếng Anh đầu tiên trình bày một tình huống tương tự đối với các cơ sở giáo dục và đời sống văn hóa. Công trình này hoàn tất bức tranh về miền Bắc dưới chế độ toàn trị không chỉ về chính trị kinh tế mà còn cả văn hoá giáo dục. Hệ thống này mang lại cho miền Bắc một lợi thế lớn so với miền Nam trong việc huy động nhân lực thông qua các biện pháp tuyên truyền nhồi sọ và cưỡng ép, và trong việc sản sinh ra những người bộ đội “anh hùng” mà khoảng một triệu người trong số họ đã bỏ mạng trong chiến tranh. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là miền Bắc “nhất định thắng lợi”, Gs. Olga Dror lập luận, vì chiến thắng còn phụ thuộc vào viện trợ của nước ngoài. Trên thực tế, chiến dịch cuối cùng của miền Bắc trong cuộc chiến có mặt xe tăng, pháo binh, và hệ thống phòng không có lẽ là tiên tiến nhất thế giới vào thời điểm đó do Liên Xô chế tạo và cung cấp.
Điều này gợi cho ta nghĩ đến mối quan hệ của Hà Nội và Sài Gòn với đồng minh của họ. Cả hai đều phụ thuộc rất nhiều vào đồng minh về viện trợ quân sự và kinh tế, nhưng có một sự khác biệt quan trọng trong mối quan hệ ý thức hệ. Ở miền Bắc, trẻ em được dạy dỗ, và cả xã hội phải tôn kính Marx, Engels, Lenin, và ở một mức độ thấp hơn, Stalin và Mao. Ngược lại, không ai dạy trẻ em miền Nam tôn thờ bất kỳ nhà lãnh đạo ngoại quốc nào, lại càng không phải là các tổng thống Mỹ. Nhiều trí thức miền Nam đã công khai chỉ trích tác động băng hoại của văn hóa Mỹ đối với xã hội của họ sau năm 1965. Các họa sĩ biếm họa Sài Gòn tự do chế giễu Tổng thống Nixon và cố vấn của ông, Tiến sĩ Henry Kissinger, trong khi người miền Bắc nào dám chỉ trích bất cứ điều gì về Trung Quốc, Liên Xô, hay “các nước anh em” ở nơi công cộng sẽ bị bắt ngay và chết mòn mỏi trong tù.
Lòng trung thành về ý thức hệ của Hà Nội, được thể hiện không chỉ trong diễn ngôn công khai mà còn trong việc quan tâm giữ gìn tình đoàn kết trong phe cộng sản, có lẽ đã góp phần vào sự ủng hộ kiên định đến cùng của phe cộng sản quốc tế, trong khi cái chết của Ngô Đình Diệm cho thấy Mỹ và Nam Việt Nam bị xung đột quan điểm, mâu thuẫn lợi ích, và ngờ vực lẫn nhau. Tình hình này góp phần khiến Hoa Kỳ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam và để nước này tự mình đối đầu với toàn bộ khối cộng sản.
Khi ta hiểu rõ hệ thống miền Bắc khác với miền Nam như thế nào, nhà nước miền Bắc kiểm soát xã hội chặt chẽ như thế nào, và hận thù, nhiệt tình cách mạng, và văn hoá tôn vinh chiến tranh đã ngấm vào toàn bộ xã hội miền Bắc trong thời chiến như thế nào, thì những bi kịch thời hậu chiến không làm ta ngạc nhiên. Với chiến thắng của miền Bắc, lòng căm thù đó đã dồn hết vào kẻ thù đã đầu hàng là những người có liên hệ với chính quyền miền Nam, và gia đình của họ. Theo lệnh của Hà Nội ban ra, cách mạng vô sản diễn ra quyết liệt khắp miền Nam: chính quyền tịch thu tài sản của chủ doanh nghiệp, bắt nông dân tham gia hợp tác xã, cấm buôn bán, trục xuất người gốc Hoa ra khỏi đất nước, đốt sách, đóng cửa các tờ báo tư nhân độc lập và các công ty xuất bản, đàn áp trí thức và giới lãnh đạo tôn giáo, và thiết lập sự kiểm soát trực tiếp của Đảng Cộng sản trong các trường phổ thông và đại học.
Chiến tranh, lần này là giữa cộng sản Việt Nam với đồng minh cũ Campuchia và Trung Cộng, nhanh chóng tái diễn chỉ sau bốn năm hòa bình. “Việt Nam Nước Chia Hai Đàng” không đề cập đến việc xây dựng lại một Việt Nam duy nhất sau chiến tranh, nhưng gợi ra lý do tại sao chiến tranh không dừng lại sau khi Việt Nam thống nhất: cuộc nội chiến trên thực tế vẫn tiếp diễn giữa đảng cộng sản và các tầng lớp dân chúng miền Nam khác nhau từ nông dân đến giai cấp tư sản; và một cuộc chiến mới gây ra khi tham vọng bá chủ Đông Nam Á của cộng sản Việt Nam đối đầu với tham vọng của cộng sản Campuchia và Trung Quốc.
“Việt Nam Nước Chia Hai Đàng” nói về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam hiện đại và vượt ra ngoài cuộc chiến để xem xét con người Việt Nam và xã hội của họ. Qua tác phẩm này, Giáo sư Olga Dror có đóng góp lớn cho ngành Việt Nam học, đưa ra những câu trả lời thuyết phục cho nhiều câu hỏi trong cuộc tranh luận về cuộc nội chiến Nam Bắc, và xứng đáng là một mô hình mẫu cho các công trình nghiên cứu khoa học trong tương lai. Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ hoan nghênh Giáo sư Olga Dror, cảm tạ ông Lê Tùng Châu, và chúc bạn đọc Việt Nam học hỏi được nhiều từ tác phẩm này.
Vũ Tường
Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ, Đại học Oregon
Ghi chú: Bài được dịch và sửa lại từ phần giới thiệu sách trên Diễn đàn H-Diplo của sử gia Mỹ: https://networks.h-net.org/node/28443/discussions/5732194/h-diplo-roundtable-xxi-25-making-two-vietnams-war-and-youth