Ngô Đình Diệm và Tôi: Hồi Ký của Bùi Công Văn
Biên tập và giới thiệu bởi Tường Vũ
US-Vietnam Research Center and Nhân Ảnh Publisher, 2025
LỜI GIỚI THIỆU
Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt hân hạnh xuất bản quyển hồi ký của cố tác giả Bùi Công Văn được viết trước khi ông qua đời vào năm 1999. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ông bà Nguyễn Đức Cường đã cho phép công bố hồi ký và hết lòng ủng hộ Trung tâm ngay từ những ngày đầu. Bà Nguyễn Đức Cường, tên khai sinh là Marie Bùi Mỹ Dung, là con gái lớn của ông bà Bùi Công Văn. Bà đã tận mắt chứng kiến phần lớn những câu chuyện mà ông Văn kể lại trong quyển hồi ký này. Chúng tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới bà Lucie Bùi Mỹ Châu, con gái thứ hai của ông Bùi Công Văn, cũng là người đã đánh máy lại toàn bộ bản thảo viết tay của ông và cung cấp những bức ảnh gia đình quý giá cho quyển sách này.
***
Ông Văn sinh ra tại Cần Thơ vào năm 1919, là một trong những người Việt Nam đầu tiên được tuyển làm phát thanh viên kiêm phiên dịch cho Ban tiếng Việt của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) vào năm 1951, khi trụ sở vẫn còn đặt tại New York. Nhờ sống ở New York, ông Văn và gia đình có cơ hội làm quen với ông Ngô Đình Diệm, khi đó đang ở Chủng viện Maryknoll tại Ossining (phía bắc thành phố New York) và Lakewood, New Jersey. Kể từ đó, sự nghiệp và cuộc đời của ông Văn cùng gia đình ông chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi mối quan hệ tình bạn với ông Diệm — người đã đến ở với gia đình ông Văn tại New York trong nhiều tuần liền mỗi lần trong 9 tháng từ năm 1952 đến 1953.
Ông Văn là một người yêu nước: ông căm ghét thực dân Pháp và mong đất nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Không giống như nhiều người Việt khác ở New York hoặc những vị khách đến thăm nhà ông chỉ vì tò mò về chính trị hay có những tính toán riêng, ông Văn hoàn toàn không quan tâm đến chính trị. Như ông viết:
“Chúng tôi không giàu có — ngược lại, chúng tôi nợ nần chồng chất — nhưng hạnh phúc không nhất thiết phải cần nhiều tiền, ít nhất là trong trường hợp của chúng tôi. Ở bên ông Diệm, chúng tôi đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và biết rằng mình đang làm những điều tốt đẹp cho ông ấy. Dù tôi không thích chính trị (hoặc chính vì vậy), tôi không coi ông Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo tương lai của Việt Nam. Tôi nghĩ số phận ông cũng sẽ như những nhà cách mạng thất bại trước đó: Cường Để, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, v.v. Những người có lý tưởng và can đảm, sẵn sàng hy sinh hơn là thỏa hiệp với thực dân Pháp, từ chối thứ độc lập nửa vời mà Pháp mang lại cho Việt Nam. Toàn bộ quá khứ của ông Ngô Đình Diệm cho thấy điều này, và chính vì vậy, vợ chồng tôi rất kính trọng ông ấy. Chúng tôi tin rằng ông sẽ không nhân nhượng với người Pháp mà sẽ kiên định giữ lập trường: Độc lập thật sự, Tự do đích thực cho Việt Nam. Và dĩ nhiên, chúng tôi biết ông sẽ không bao giờ có cơ hội đó. Chính sách của Mỹ ở Đông Dương khi ấy chẳng có gì khiến chúng tôi có thể nghĩ khác hơn.”
Đối với gia đình ông Văn, ông Ngô Đình Diệm không chỉ là một người bạn:
“Với gia đình tôi, việc có ông ở cùng là một niềm vui lớn. Giữa đất khách quê người, chúng tôi coi ông như người thân ruột thịt, như một người cha nuôi. Thực tế là con cái chúng tôi tự nhiên gọi ông là ‘Ông nội Maryknoll’ mà chẳng có ai bảo chúng thế hay vì có ý đồ riêng nào, đủ cho thấy sự gắn bó thật lòng của chúng tôi với ông… Tình cảm của chúng tôi dành cho ông cũng tự nhiên như tình cảm của con cái dành cho cha mẹ. Và ông Ngô Đình Diệm cũng rất trân trọng chúng tôi.”
Nhờ quan hệ gần gũi như người nhà, ông Diệm sống thoải mái bên gia đình ông Văn, và gia đình ông Văn cũng kể lại nhiều câu chuyện về vị tổng thống tương lai này — người mà những suy nghĩ riêng tư lúc bấy giờ và tính cách thật sự chưa ai bên ngoài biết rõ. Ông Ngô Đình Diệm thật sự là người thế nào? Ông ấy có thói quen độc thoại hàng giờ mà nhiều người (nhất là người Mỹ) vẫn cảm thấy ngán ngại không? 1 Ông ấy có phải là một tín hữu Công giáo sùng đạo không? Ông ấy có thực là người ghét phụ nữ không?
Hóa ra, những câu chuyện về thói quen độc thoại của ông Diệm còn tệ hơn những gì người ta đồn đoán. Ông Diệm thường thức suốt đêm trò chuyện với ông Văn, đêm này qua đêm khác, tay không rời điếu thuốc. Ông Văn viết:
“Ngô Đình Diệm nói chuyện hàng giờ liền. Ông ấy bàn về đủ thứ chuyện trên đời, chỉ tạm dừng để nhấp ngụm trà, hoặc hiếm hoi lắm mới dừng lại để nghe tôi chen vào một hai câu hỏi. Vợ tôi thì hay lui vào bếp — như những người phụ nữ Việt Nam vẫn thường làm — nhưng lâu lâu lại trở ra để châm thêm trà rồi lại lặng lẽ đi vào. Mỗi lần bà ấy mở cửa, bà thường phải dừng lại một lúc, vì khói thuốc đầy căn phòng đến nỗi khó mà nhìn rõ bên trong. Hai người đàn ông cứ thế chuyện trò mê mải, không mảy may bận tâm đến khói thuốc và cũng chẳng khi nào ngừng hút. Mùa đông thì còn tệ hơn, chúng tôi đóng kín cửa sổ để tránh rét, vợ tôi thường phải hé cửa để đón chút không khí tươi mới khi mang trà vào.”
Gia đình ông Văn làm thế nào để chịu đựng những cuộc trò chuyện thâu đêm ấy suốt nhiều tháng?
“Lúc đầu cũng thật khó chịu vì ông Diệm gần như chẳng bao giờ ngủ, càng về khuya ông ấy lại càng tỉnh táo. Nhưng lâu dần, chúng tôi cũng quen. Tôi thường thức cùng ông ấy cho tới phút cuối trước khi đi làm ca đêm, thậm chí tôi còn thấy thích nghe ông ấy nói.”
Và không chỉ đối với gia đình ông Văn, ông Diệm cũng đối xử như vậy đối với nhiều vị khách xa lạ.
“Nhiều vị khách vội vã ghé căn hộ của tôi để được gặp ông Diệm lần đầu hoặc hàn huyên với người quen cũ, chẳng ai ngờ mình sẽ phải ngồi suốt nhiều giờ, thậm chí cả đêm, để nghe ông ấy nói chuyện. Họ thường đến lúc sáu giờ chiều, vừa đặt chân xuống tàu sau mấy giờ bay, hoặc mấy ngày lênh đênh trên biển, hoặc mệt rã rời sau cả ngày mua sắm, tham quan. Nhiều người chưa kịp ăn uống gì, định bụng sẽ có thời giờ thưởng thức vài món Mỹ rồi còn đi dạo tiếp New York buổi tối. Một số khác thì chỉ định ghé một lát rồi về khách sạn nghỉ chân, coi như khép lại một ngày dài.
Nhưng với ông Ngô Đình Diệm, bất kể khách đói hay no, sáu giờ tối hay nửa đêm, ông vẫn tỉnh như sáo và nếu không ai giục ăn, ông cứ nói mãi không dứt. Ông không để ý đến chuyện người đối diện có đói hay mệt, bởi với ông, họ đã vượt nửa vòng trái đất để gặp mình thì ông phải dành cho họ một cuộc trò chuyện rõ dài.”
Có thể vài người khách thích nghe ông Diệm độc thoại thâu đêm, nhưng chắc nhiều người cũng thấy khổ sở vì điều đó. Thật thú vị là ông Diệm luôn tin rằng mình nợ các vị khách một cuộc nói chuyện dài và ông ấy luôn cố gắng trao đổi một cách chỉn chu, cẩn trọng. Cũng dễ thấy rằng ông không giỏi giao tiếp và thường không hiểu được ý tứ hay thái độ của người đang nói chuyện với mình. Thậm chí chúng ta có thể phỏng đoán rằng những cuộc độc thoại ấy là dấu hiệu của một dạng tự kỷ nhẹ.2
Những gì phần nào bù đắp cho những giờ dài khách phải ngồi nghe ông Diệm nói chính là ông rất am hiểu chính trị và “có vô số thông tin cá nhân cùng những hiểu biết đặc biệt về các nhân vật Việt Nam đương thời và trước kia. Ông rất hài hước và đặc biệt giỏi bắt chước những người mà ông không ưa.” Ông Văn kể lại:
“Khi tôi ngồi viết những dòng này, tôi vẫn còn thấy rõ trong đầu hình ảnh buồn cười khi ông Diệm bắt chước Lý Chánh Đức. Ông đứng chắp tay, miệng méo xệch, rồi tiếp tục uốn lưng, vừa làm vừa bình luận: “Đức giống như một diễn viên trên sân khấu, múa theo tiếng castanets. Thân mình ông ta co giật, còn tay giật lên giật xuống như bị dây rối giật vậy.”
Việc ông Diệm có tính hài hước có thể khiến nhiều người bất ngờ, nhất là nếu chỉ đọc những gì đã được viết về ông. Tuy vậy, hồi ký này còn tiết lộ nhiều điều khác về con người ông. Theo ông Văn, ông Diệm không phải là người “hay tránh những câu chuyện đồn thổi, tán gẫu, hay ngại nói đến những chuyện không thanh nhã [vulgar] liên quan đến phụ nữ.” Ông Văn kể:
“Chẳng hạn, có lần tôi kể cho ông Diệm nghe về bà Hoàng Xuân Hãn, người mà hôm đó tôi thấy đang đi dạo tay trong tay với một người đàn ông gần ngân hàng của tôi… trên phố 57, gần văn phòng VOA. Ông Diệm cười lớn rồi giải thích với tôi rằng bà Hãn là người song tính, và dù bà tỏ ra thân mật — ngay cả giữa chốn công cộng! — với người đàn ông đó, thì ông ta cũng không thể làm được gì cả.3 Theo ông Diệm, tất cả chỉ là màn “đấm bốc trong bóng tối”. Có nhiều chi tiết ít người biết về bà Hãn, vợ của một học giả nổi tiếng ở Hà Nội, và ông Diệm biết rõ, đã kể lại cho chúng tôi.4 Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy ông là một con người hoàn toàn bình thường dù có những tiếng xấu như “kẻ ghét phụ nữ”, “suốt đời không quan hệ với phụ nữ” [eternal virgin], hay những điều tương tự người ta gán cho ông.”
Nhiều nhà báo nước ngoài đã mô tả ông Diệm là người “ghét phụ nữ”5, nhưng thực tế có thể phức tạp hơn. Một quan niệm phổ biến khác về ông Diệm là ông rất sùng đạo,6 nhưng ông Văn cho rằng điều này không đúng. Trong nhiều buổi sáng Chủ Nhật đi lễ nhà thờ cùng ông Diệm và quan sát cách ông sinh hoạt ngoài xã hội cũng như ở nhà, ông Văn kể lại:
“Trái với lời đồn rằng ông Diệm là “linh mục mặc thường phục” hay cực kỳ sùng đạo như một nhà tu, tôi chưa bao giờ thấy ông rước lễ hay cư xử khác gì so với chúng tôi — những tín hữu Công giáo bình thường và cũng không quá sùng đạo. Thực ra, ông Diệm không mang theo sách lễ hay tràng hạt, và ông cũng không ở lại nhà thờ lâu hơn gia đình tôi. Chúng tôi cũng chưa bao giờ thấy ông cầu nguyện hay thực hiện nghi lễ tôn giáo nào ở nhà. Nếu ông thực sự là một tín hữu Công giáo đặc biệt mộ đạo thì ông đã phải kín đáo đến mức không ai nhận ra, và tôi không hiểu những lời gán cho ông biệt danh “nhà tu” bắt nguồn từ đâu. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu phát hiện ra đó chỉ là những lời lẽ bịa đặt của kẻ thù chính trị nhằm biến ông thành một “người tu xuất” và do đó không xứng đáng làm chính khách.”
Dù chúng ta không nhất thiết phải tin hoàn toàn những gì ông Văn kể về ông Diệm, nhưng cũng không có lý do gì để phủ nhận, kể cả những nhận xét dưới đây về việc vào cuối năm 1952, ông Diệm dường như vẫn chưa có kế hoạch hành động lớn nào cho tương lai.
“Về tương lai, ông Diệm không chắc chắn. Ông không biết — và cũng không muốn liều mình dự đoán — điều gì sẽ xảy ra với đất nước chúng ta. Về các hoạt động cá nhân, ông khá thành thật khi nói rằng ông không có, cũng không dự định có, bất cứ điều gì quan trọng để thực hiện và cũng không thật sự định hành động gì. Từ ông Diệm hay dùng nhất là “học hỏi.” Ông sang Mỹ chủ yếu để phục vụ và để “học hỏi”, như ông nói.”
Tuy nhiên, cũng có thể ông Diệm vẫn đang chờ đợi lịch sử xoay chuyển theo hướng có lợi cho mình, và không muốn đoán trước tương lai, nhất là với một người như ông Văn — người không phải là cộng sự thân tín của ông. Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết được.
Mặc dù ông Văn không kỳ vọng nhiều ở ông Diệm, nhưng sau khi ông Diệm trở thành tổng thống, ông đã đáp lại ân tình và bổ nhiệm ông Văn làm đại diện của Việt Nam Cộng hòa tại Hồng Kông vào năm 1956. Là Lãnh sự Hồng Kông và là một viên chức phục vụ dưới quyền ông Diệm, ông Văn tin vào sứ mệnh và sự liêm chính của vị tổng thống này, nhưng ông cũng đã gặp phải nhiều vấn đề mà người ta nói nhiều về chính quyền Ngô Đình Diệm: từ các quan chức tham nhũng, những người thân trong gia đình tổng thống vừa bất trung vừa kiêu ngạo với quyền lực quá lớn, cho đến việc tổng thống bị bao quanh bởi những kẻ nịnh bợ và khó tiếp cận đối với những người có thể nói thẳng cho ông biết sự thật. Một lần nữa, chúng ta cũng không chắc ông Văn hiểu rõ chính sự Sài Gòn đến mức nào khi ông sống và làm việc ở Hồng Kông xa Sài Gòn. Tuy vậy, ông cũng không ngại chỉ trích nặng nề gia đình Tổng thống Diệm, từ các anh em trai như Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, cho đến bà Nhu, cha mẹ bà là Trần Văn Chương và Thân Thị Nam Trân, cùng nhiều quan chức khác.
Đến năm 1960, ông Văn trở nên vô cùng thất vọng khi về Sài Gòn dự hội nghị kéo dài một tuần dành cho người đứng đầu các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài. Mục đích của hội nghị là để phô trương những gì mà chính phủ gọi là “thành tựu” của Khu Trù Mật, với các chuyến đi tham quan những địa điểm được xây dựng vội vàng, dang dở. Trong hồi ký, ông đã mô tả rất chi tiết cảm xúc và quan sát của mình:
“Hội nghị bắt đầu rầm rộ nhưng kết thúc trong sự thất vọng. Tổng thống Diệm nghĩ rằng việc cho các đại sứ tận mắt thấy những ‘thành tựu’ này sẽ củng cố phần nào niềm tin vốn đang suy giảm của họ đối với nỗ lực của chính phủ, nhưng thực tế lại ngược lại. Không một trưởng phái đoàn nào bị đánh lừa bởi những gì họ chứng kiến, và khi quay về nhiệm sở của mình, tất cả có lẽ đều hy vọng sẽ không bao giờ bị triệu tập về lại nữa.”
Sau khi vợ ông bị một người đàn ông — được cho là do Ngô Đình Nhu cử sang Hồng Kông làm nhiệm vụ chính trị bí mật — yêu cầu đưa tiền, ông Văn đã quay về Sài Gòn để đích thân trình bày vụ “tống tiền” này với ông Diệm. Ông đã có một cuộc gặp gỡ khá căng thẳng với tổng thống, người sau đó đã yêu cầu ông gặp ông Nhu để giải quyết. Toàn bộ sự việc này khiến ông Văn muốn từ chức, dù trong lòng ông vẫn giữ niềm tin vào ông Diệm:
“Một cảm giác chán nản và mệt mỏi với tất cả chuyện này tràn ngập trong tôi: Việt Nam dưới chiếc ô che của Mỹ, chính quyền và chính trị kiểu Sài Gòn, Võ Văn Hải và Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Cái bóng cứu rỗi duy nhất, dù đã mờ nhạt và mệt mỏi, vẫn là ông Diệm — nhưng ông đã bị cô lập sau những bức tường của Dinh Độc Lập. Tôi đã không ngờ những suy nghĩ của mình lại gần với sự thật đến vậy.”
Cuối cùng, ông quyết định ở lại. Ông giải thích: “Nhìn ông lần cuối trước khi rời Dinh, tôi cảm thấy: Đây vẫn là ông Diệm mà tôi từng quen biết. Ông ấy có thể đã thay đổi, nhưng sâu thẳm bên trong, ông vẫn là bạn của tôi. Tôi sẽ tiếp tục ở lại vì ông.” Ông Văn theo dõi từ xa những biến động vào những năm cuối của Đệ nhất Cộng hòa trước khi ông Diệm bị lật đổ. Ông nghi ngờ rằng tổng thống đang bị em trai Ngô Đình Nhu gạt ra bên lề. Hai vợ chồng ông ước rằng ông Diệm từ chức và sang Mỹ sống lưu vong với họ như những ngày xưa để lại được làm “ông nội” của các con mình. Nhưng lịch sử đã không diễn ra theo cách đó như chúng ta đều đã biết.
Mặc dù quyển tiểu sử tập trung chủ yếu vào Ngô Đình Diệm, nó vẫn chứa đựng nhiều chi tiết hấp dẫn về công việc của ông Văn tại đài VOA và cuộc sống, hoạt động của ông cùng các đồng nghiệp, bạn bè ở Hoa Kỳ vào những năm 1950. Trong đó có những mẩu chuyện nhỏ về các chính trị gia và học giả nổi tiếng như Đỗ Vạn Lý, Phan Huy Đán và Huỳnh Sanh Thông, cũng như nhiều nhân vật giờ đã bị lãng quên. Vì tất cả những người liên quan, bao gồm cả ông Văn, đều đã mất từ lâu nên chúng tôi không thể kiểm chứng bất kỳ chi tiết nào và những câu chuyện cá nhân này cần được đón nhận với sự thận trọng.
Ông Văn không chỉ đơn thuần kể chuyện mà còn lồng ghép vào đó những suy tư sâu sắc, đôi khi điểm xuyết vài câu thơ. Đoạn trích dưới đây cho thấy triết lý của ông trong cách trình bày câu chuyện:
“Tôi đã tự cho mình quyền… hợp nhất hoặc pha lẫn hiện tại và tương lai [trong câu chuyện], không phải vì thiếu kiên nhẫn hay thiếu phương pháp kể chuyện bài bản, mà bởi một cảm giác thôi thúc về sự tiếp nối không ngừng, ngay cả sau khi người ta đã chết. Vì vậy, hiện tại – quá khứ – tương lai chẳng qua chỉ là sự vĩnh cửu được gói gọn trong một cái lọ nhỏ, sẵn sàng và rực rỡ cho bất kỳ ai đủ tinh tường để chiêm nghiệm.”
Người đọc sẽ trân trọng sự trung thực và sự khiêm nhường của ông Văn khi nói về bản thân và những người xung quanh:
“Chúng tôi chắc chắn không phải là những nhà cách mạng. Chúng tôi chỉ là một nhóm thanh niên mộng mơ, ngây thơ, cố gắng chống lại thực dân Pháp và bọn tay sai của họ ở Việt Nam một cách vụng về và kém hiệu quả. Một số trong chúng tôi tham vọng hơn, nhưng cơ bản chúng tôi chỉ là lũ trẻ con — non nớt, buồn cười và chưa trưởng thành, dù khi ấy ai cũng đã ngấp nghé tuổi trung niên.”
Hơn hết, độc giả sẽ cảm nhận được trí nhớ tuyệt vời của ông Văn cùng tài kể chuyện duyên dáng, dí dỏm của ông. Quyển hồi ký của ông đầy ắp những chi tiết sống động về con người, sự việc, được kể bằng lối hài hước nhẹ nhàng. Một ví dụ là đoạn ông tả căn hộ của một nữ nghiên cứu sinh tại Đại học Cornell:
“Tôi chưa từng thấy căn hộ nào bẩn hơn, nhất là cái bồn rửa với đống bát đĩa chưa rửa chất đống, bốc mùi như xác thối. Sàn nhà trông như một lớp đất dày ba inch đóng thành tấm thảm nhầy nhụa, bốc mùi khó ngửi. Còn những chiếc giường trên tấm thảm ẩm ướt hôi hám ấy thì như một khu rừng gối, ga, chăn chất chồng. Một bãi chiến trường ngay sau một trận đụng độ đẫm máu chưa kịp dọn dẹp có lẽ cũng không thể trông kinh tởm hơn thế.
Và chủ nhân của căn hộ ấy, Marjorie Weiner 7, vốn là một
“cô gái không hề xấu, nhưng lôi thôi từ đầu đến chân. Đôi mắt xanh nhạt của cô không được rửa sạch, thật tiếc khi thấy chúng đục ngầu như phủ một màn sương mỏng, khóe mắt còn đóng cặn thành những cục bẩn li ti. Vậy mà chỉ vài năm sau, chúng tôi lại gặp lại cô ở Sài Gòn, đã hóa thành một “trái chín” hoàn toàn khác — một cô gái quyến rũ đến mức hình ảnh Lọ Lem hóa thân hiện lên ngay trong đầu tôi. Má hồng, cử chỉ duyên dáng, mái tóc xoăn buông lượn sóng vàng óng trên vai, Marjorie trông chẳng khác nào Madame Récamier trong salon của bà, nhất là khi cô tiếp khách vào mỗi chiều thứ Tư và thứ Năm tại căn hộ được bài trí tinh tế trên đường Bà Huyện Thanh Quan.”
Mặc dù câu chuyện trong quyển hồi ký này chỉ được kể lại bởi một cá nhân nhiều thập kỷ sau sự kiện, nhưng nó sẽ rất thú vị đối với các nhà sử học và sinh viên ngành lịch sử Việt Nam. Ông Ngô Đình Diệm chắc chắn là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại của Việt Nam, nhưng người ta vẫn chưa biết nhiều về ông với tư cách là một con người, và những gì biết được chủ yếu là do người nước ngoài kể lại. Chúng tôi hy vọng rằng quyển hồi ký này của một người Việt Nam đã sống gần chín tháng dưới cùng một mái nhà với ông Diệm tại một thời điểm quan trọng trong cuộc đời ông sẽ góp phần nâng cao hiểu biết của chúng ta về ông. Với tư cách là biên tập viên, tôi để tác giả tự nói về mình, ngoại trừ việc phân ra các chương và thêm vào tiêu đề để câu chuyện dễ theo dõi hơn. Tôi cũng biên tập để các từ tiếng Việt được viết đúng chính tả với các dấu thanh điệu và cung cấp một vài chú thích khi cần thiết. Những chú thích của tác giả được đánh dấu cụ thể bằng “(Au.).”
Vũ Tường,
Giáo sư Khoa học Chính trị
Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt-Mỹ
Đại học Oregon